Hiển thị các bài đăng có nhãn #caphenguyenchat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn #caphenguyenchat. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2024

HƯỚNG DẪN THỦ TỤC NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT XUẤT KHẨU CÓ MÃ LOẠI HÌNH E31

 Công ty đã nhập 3 lô hàng nguyên liệu sản xuất xuất khẩu (E31), sau khi sản xuất thành thành phẩm xuất bán cho khách hàng nhưng bị đánh giá không đạt, nguyên liệu còn lại bên em muốn xuất trả cho nhà cung cấp, nhà cung cấp đã đồng ý cho bên em xuất trả thông qua đại diện khác của họ vì công ty đứng tên bán cho bên em đã đóng cửa. Vậy cho hỏi:
1. Bây giờ em cần phải làm thủ tục như thế nào?
2. Công ty đóng thuế nhập khẩu cho toàn bộ 3 lô hàng, sau đó xuất trả số nguyên liệu còn lại rồi xin hoàn thuế đúng không?


  • 1. Trường hợp công ty chưa nộp thuế đối với các tờ khai nhập khẩu theo loại hình E31.

    Về hồ sơ thủ tục xuất trả nguyên liệu, công ty căn cứ Điều 48 Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ để thực hiện, cụ thể:

    Điều 48. Thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu phải tái xuất

    1. Các hình thức tái xuất hàng hóa nhập khẩu đã hoàn thành thủ tục hải quan bao gồm:

    a) Tái xuất để trả cho khách hàng ở nước ngoài;

    b) Tái xuất sang nước thứ ba hoặc tái xuất vào khu phi thuế quan.

    2. Hồ sơ hải quan:

    a) Tờ khai hàng hóa xuất khẩu;

    b) Văn bản chấp nhận nhận lại hàng của chủ hàng nước ngoài (nếu hàng xuất khẩu trả lại cho chủ hàng bán lô hàng này): nộp 01 bản chụp;

    c) Quyết định buộc tái xuất của cơ quan có thẩm quyền (nếu có): 01 bản chụp.

    3. Thủ tục hải quan thực hiện theo quy định tại Mục 5 Chương này (trừ giấy phép nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra chuyên ngành).

    Trường hợp người khai hải quan nộp đủ hồ sơ không thu thuế khi làm thủ tục xuất khẩu, cơ quan hải quan không thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu trả lại hoặc xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc xuất khẩu vào khu phi thuế quan và quyết định việc thông quan theo quy định.

    ...”

    Theo đó, Công ty không phải nộp thuế cho phần nguyên liệu xuất trả nhà cung cấp. Khi kết thúc năm tài chính công ty đưa phần nguyên liệu này vào cột xuất trong kỳ của báo cáo quyết toán.

    2. Trường hợp công ty đã nộp thuế nhập khẩu cho các tờ khai nhập khẩu theo loại hình E31 do không được ân hạn thuế hoặc quá hạn 275 ngày (Trước thời điểm Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khâu sô 107/2016/QH13 có hiệu lực).

    Căn cứ hướng dẫn tại Điểm 1.3 Khoản 1 Công văn số 8621/TCHQ-TXNK ngày 08/09/2016 của Tổng cục Hải quan về việc xử lý thuế:

    “1. Về xử lý thuế miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất thuộc các tờ khai đăng ký trưóc ngày 01/9/2016 theo quy định tại Điều 21:

    ...1.3. Đối với hàng hóa đã xuất khẩu sản phẩm / đã tái xuất và/hoặc đã nộp thuế, cơ quan hải quan yêu cầu người nộp thuế nộp hồ sơ hoàn thuế/không thu thuế theo đúng thời hạn quy định”.

    Căn cứ điều 34 Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2015 của Chính phủ quy định:

    Điều 34. Hoàn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phải tái xuất

    1. Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng phải tái xuất được hoàn thuế nhập khẩu và không phải nộp thuế xuất khẩu, gồm:

    a) Hàng hóa nhập khẩu nhưng phải tái xuất ra nước ngoài hoặc xuất khẩu vào khu phi thuế quan để sử dụng trong khu phi thuế quan.

    Việc tái xuất hàng hóa phải được thực hiện bởi người nhập khẩu ban đầu hoặc người được người nhập khẩu ban đầu ủy quyền, ủy thác xuất khẩu;

    b) Hàng hóa nhập khẩu do tổ chức, cá nhân ở nước ngoài gửi cho tổ chức, cá nhân ở Việt Nam thông qua dịch vụ bưu chính và dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế đã nộp thuế nhưng không giao được cho người nhận hàng hóa, phải tái xuất;

    c) Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế sau đó bán cho các phương tiện của các hãng nước ngoài trên các tuyến đường quốc tế qua cảng Việt Nam và các phương tiện của Việt Nam trên các tuyến đường quốc tế theo quy định;

    d) Hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của cơ quan hải quan được tái xuất ra nước ngoài.

    Người nộp thuế có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực trên tờ khai hải quan về hàng hóa tái xuất là hàng hóa nhập khẩu trước đây; các thông tin về số, ngày hợp đồng, tên đối tác mua hàng hóa.

    Cơ quan Hải quan có trách nhiệm kiểm tra nội dung khai báo của người nộp thuế, ghi rõ kết quả kiểm tra để phục vụ cho việc giải quyết hoàn thuế.

    2. Hồ sơ hoàn thuế, gồm:

    a) Công văn yêu cầu hoàn thuế hàng hóa nhập khẩu theo Mẫu số 09 tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này: 01 bản chính;

    b) Hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng theo quy định của pháp luật về hóa đơn đối với trường hợp quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều này: 01 bản chụp có đóng dấu sao y bản chính của cơ quan;

    c) Chứng từ thanh toán hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đối với trường hợp đã thanh toán: 01 bản chụp có đóng dấu sao y bản chính của cơ quan;

    d) Hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu và hóa đơn theo hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu đối với trường hợp mua, bán hàng hóa; hợp đồng ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu nếu là hình thức xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác (nếu có): 01 bản chụp có đóng dấu sao y bản chính của cơ quan;

    đ) Văn bản thỏa thuận trả lại hàng hóa cho phía nước ngoài trong trường hợp xuất trả chủ hàng nước ngoài ban đầu đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này: 01 bản chụp có đóng dấu sao y bản chính của cơ quan;

    e) Văn bản thông báo của doanh nghiệp bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế về việc không giao được cho người nhận đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại điểm b khoản 1 Điều này: 01 bản chụp có đóng dấu sao y bản chính của cơ quan;

    g) Văn bản xác nhận của doanh nghiệp cung ứng tàu biển về số lượng, trị giá hàng hóa mua của doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu đã thực cung ứng cho tàu biển nước ngoài kèm bảng kê chứng từ thanh toán của các hãng tàu biển nước ngoài đối với hàng hóa nhập khẩu quy định tại điểm c khoản 1 Điều này: 01 bản chính.

    3. Thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ hoàn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

    Trường hợp hàng hóa thuộc diện được hoàn thuế nhưng chưa nộp thuế hoặc không phải nộp thuế theo quy định tại Điều 19 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, hồ sơ, thủ tục thực hiện như hồ sơ, thủ tục hoàn thuế.”

    Theo quy định trên, trường hợp công ty xuất trả nguyên liệu cho chính nhà cung cấp thì được hoàn thuế theo quy định tại điều 34 Nghị định 134/2016/NĐ-CP. Riêng việc hoàn thuế đối với trường hợp tái xuất sang nước thứ ba, Cục Hải quan Đồng Nai đã nếu vướng mắc gửi Tổng cục Hải quan, tuy nhiên đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể. Đề nghị Công ty theo dõi các hướng dẫn của Tổng cục Hải quan trong thời gian tới để thực hiện.

  • Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của LawNet. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email: nhch@lawnet.vn

  • Nguồn: https://lawnet.vn/ngan-hang-phap-luat/tu-van-phap-luat/xuat-nhap-khau/huong-dan-thu-tuc-nhap-khau-nguyen-lieu-san-xuat-xuat-khau-co-ma-loai-hinh-e31-224048

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2022

VÌ SAO CÀ PHÊ NGUYÊN CHẤT LÀ LỰA CHỌN SỐ 1 CỦA ĐÀN ÔNG?


Cà phê là đồ uống rất phổ biến ở nhiều quốc gia. Hiện để thuận tiện hơn cho việc sử dụng, cà phê còn được chế biến dưới dạng lon hay cà phê tan . Tuy nhiên, đối với những người thực sự “sành”, cà phê nguyên chất vẫn là lựa chọn số 1.


Cà phê chinh phục được khẩu vị của nhiều người nhờ có hương vị rất đặc trưng. Bên cạnh đó, nó còn giúp trí óc tỉnh táo cùng nhiều tác dụng rất có lợi đối với sức khỏe của người dùng. Do vậy, cà phê nguyên chất là đồ uống được rất nhiều người, đặc biệt là phái mạnh lựa chọn.

1. Cảm nhận được hương vị đúng “chất” cà phê


Ly cà phê nguyên chất đúng điệu


Khi thưởng thức cà phê mỗi người cũng có phong cách riêng, người thì không thể thiếu đường, có người buộc phải cho thêm sữa. Song đối với những người thực sự “sành”, đa phần đều chọn cà phê nguyên chất pha một chút đường - đây là cách uống thực sự hiệu quả nếu muốn thưởng thức trọn vẹn hương vị của ly cà phê - đắng nhưng đậm đà khó quên.

2. Giúp tăng cường khả năng sáng tạo và hoạt động

Bạn đã bao giờ uống 1 ly cà phê sáng trước khi bắt đầu làm việc? Và bạn có cảm thấy thoải mái, thư giãn và muốn bắt tay vào công việc ngay?



Caffeine là hoạt chất chính trong cà phê nguyên chất. Mặc dù, caffeine cũng có trong trà, ca cao hay chocolate…, nhưng về hàm lượng, trong cà phê nguyên chất là nhiều hơn cả.

Cà phê nguyên chất giúp sáng tạo thăng hoa


Không chỉ có vậy, cà phê nguyên chất còn làm tăng tiết những hormon như adrenalin, cortisol giúp cơ thể có thể tăng cường khả năng hoạt động. Nhờ đó, người hoạt động thể lực như luyện tập thể dục - thể thao sẽ dẻo dai, bền bỉ và dễ dàng đạt được các mục tiêu đã đề ra.

3. Bảo vệ sức khỏe, giảm căng thẳng, tạo hứng khởi để làm việc

Khi căng thẳng, mệt mỏi ùa về - đó chính là lúc bạn cần 1 ly cà phê!

Luôn ở trạng thái sẵn sàng làm việc


Chất caffeine có trong cà phê nguyên chất còn có tác dụng kích thích tuần hoàn và hô hấp, lợi tiểu nhẹ, có thể dùng để trợ tim hoặc giúp dễ thở. Trong y khoa, caffeine cũng thường được phối hợp dùng trong nhiều loại thuốc trị cảm sốt như Excedrin, Midol, Anacin để làm giảm đau, giảm mệt mỏi.

5. Tạo sự kết nối với mọi người

Bên ly cà phê mọi người cũng có thể xích lại gần nhau hơn.


Cà phê nguyên chất cũng là đồ uống không chứa cồn được nhiều nam giới lựa chọn khi giao dịch với đối tác, cũng như khi trò chuyện thân mật với bạn bè.... Trong môi trường nào, bên ly cà phê mọi người cũng có thể xích lại gần nhau hơn, dễ dàng sẻ chia và đồng cảm hơn.

6. Cà phê đã trở thành văn hóa của người Việt vào mỗi buổi sáng.

Nhấm nháp ly cà phê nguyên chất vào buổi sáng đã trở thành thú vui của nhiều người. Họ tìm đến những quán cà phê quen thuộc, nhìn từng giọt cà phê rơi, lắng tai nghe tiếng nhạc - là cách để loại bỏ đi những căng thẳng trong cuộc sống, cũng như công việc.


Nhấm nháp ly cà phê nguyên chất vào buổi sáng đã trở thành Văn hóa Việt!


Những tác động tích cực của cà phê nguyên chất đối với sức khỏe và tinh thần là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, để phát huy được hiệu quả cao nhất của loại đồ uống tuyệt vời này, chúng tôi khuyên bạn cần sử dụng ở mức độ hợp lý và phải lựa chọn được những sản phẩm cà phê nguyên chất sạch và có chất lượng.


Chúc các bạn có thêm nhiều ý tưởng và nhiều niềm vui hơn nữa từ những ly cà phê nguyên chất đúng điệu!

Nguồn: Purio Coffee

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2022

Kinh nghiệm tự học tiếng Anh của GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia)

 

Kinh nghiệm tự học tiếng Anh

Nói về học tiếng Anh tôi có lẽ là một trong những người có nhiều bài học, vì đơn giản là tôi từng bị sai về cách dùng chữ và phát âm. Không phải sai một lần, mà là sai nhiều lần. Và, chúng ta học từ sai lầm. Cho đến nay tôi nghĩ mình đã có một số kinh nghiệm để chia sẻ cùng các bạn nào đang đau khổ vì học tiếng Anh.

Tiếng Anh ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ loại ngôn ngữ phổ quát. Đi đâu cũng thấy người ta dùng tiếng Anh để giao tiếp với nhau. Không chỉ trong khoa học, ngoại giao, mà còn trong văn chương nữa, tiếng Anh gần như là một ngôn ngữ thống trị, là phương tiện để chúng ta gần lại với nhau. Nó còn là một phương tiện mở mang kiến thức và tiếp thu thông tin. Trong điều kiện kiểm duyệt báo chí ở Việt Nam, biết tiếng Anh rất có ích vì không sẽ giúp tránh bị nhồi sọ và tẩy não.

Học tiếng Anh còn giúp cho chúng ta mở rộng kiến thức và hiểu các khái niệm trừu tượng dễ hơn. Nếu các bạn đọc sách về tử vi, Kinh Dịch tiếng Việt, các bạn sẽ thấy rất khó hiểu vì những danh từ phức tạp và khó hiểu. Nhưng nếu các bạn đọc những sách đó bằng tiếng Anh, tôi bảo đảm rằng các bạn sẽ … sáng ra. Tương tợ, tôi đi đến nhận xét rằng các khái niệm Phật học và sách Phật giáo bằng tiếng Việt sẽ dễ hiểu hơn nếu các bạn đọc bằng tiếng Anh. Chẳng hạn như chữ ‘vô thường’ từng làm tôi đau đầu một thời gian (vì không hiểu), nhưng khi đọc được sách tiếng Anh họ dịch là ‘impermanence’ là tôi hiểu được ý nghĩa căn bản của nó. Ngay cả các khái niệm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, sách tiếng Anh dễ hiểu hơn sách tiếng Việt. Do đó, học tiếng Anh và nắm vững tiếng Anh là một chìa khoá tri thức cho cá nhân các bạn. Tin tôi đi!

Nhưng tiếng Anh lại là một rào cản đối với nhiều người Việt. Theo một bảng xếp hạng về EF English Proficiency của nhóm Education First (Thụy Sĩ), Việt Nam đứng hạng 41 trên thế giới. Với thứ hạng này xếp Việt Nam vào nhóm trung bình trên thế giới. Riêng ở Á châu, Việt Nam vẫn còn sau Singapore, Phi Luật Tân, Mã Lai, Ấn Độ, Hồng Kong và Hàn Quốc, nhưng trên Campuchia, Miến Điện, Thái Lan, Nhật Bản và Tàu. Do đó, chúng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa.

Thật ra, từ ngày qua Úc đến nay, tôi chẳng bao giờ có dịp học tiếng Anh một cách bài bản trong trường lớp. Những ngày đầu mới đến hostel dành cho người di cư, tôi cũng được cho đi học một lớp tiếng Anh, nhưng là loại dành cho người đi xin việc. Lúc nào cũng “How are you today”, “I am fine, thank you”, “Where were you from?”, “How long have you been here?”, v.v. Chỉ đâu một tuần là tôi bỏ học, chịu không nổi với cách dạy như thế. Tôi bắt đầu tự học. Nói đúng ra, tôi bắt đầu tự học từ lúc còn trong trại tạm cư bên Thái Lan. Kinh nghiệm của tôi gói gọn trong 5 điểm: từ điển & trầm mình trong tiếng Anh, học từng chữ một, mạnh dạn nói, học từ báo chí & truyền thông, và đọc sách văn học.

1. Có một cuốn từ điển Anh – Anh, và một cuốn sách hướng dẫn sử dụng tiếng Anh

Kinh nghiệm học tiếng Anh của tôi là phải trầm mình trong thế giới tiếng Anh. Trong một thời gian dài, tôi không hề tiếp xúc với tiếng Việt, không đọc báo tiếng Việt, không đọc sách tiếng Việt (thời đó cũng chẳng có mà đọc!), không nghe đài tiếng Việt (cho đến bây giờ tôi vẫn không nghe đài phát thanh tiếng Việt ở đây). Thay vào đó, thả mình trong thế giới tiếng Anh, với sách báo, radio, và tivi. Cần mở ngoặc thêm để nói là thời đó thì dễ, còn bây giờ thì chắc khó, do có internet làm sao lãng việc học.

Phải có một cuốn từ điển tốt để học tiếng Anh. Quên đi những từ điển Anh – Việt, hay tệ hơn nữa là Việt – Anh! Tìm một cuốn từ điển Anh – Anh. Một từ điển tốt có thể ví như kinh thánh! Thời còn ở trại tị nạn, tôi may mắn tiếp xúc cuốn từ điển LONGMAN, và tôi thích cuốn này ngay từ ngày đầu. Hình như cuốn này được soạn cho người nước ngoài (tức không dùng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ). Từ điển giải thích thật rõ ràng về ý nghĩa của chữ, cách dùng như thế nào, và cách phát âm. Thời đó, rất hiếm có một cuốn từ điển nào đầy đủ và thực tế như Longman. Sau này khi sang Úc và cho đến nay tôi vẫn dùng Longman làm từ điển.

Tôi nghiệm ra một điều là cách sử dụng tiếng Anh cho đúng còn quan trọng hơn cả văn phạm tiếng Anh. Cũng trong thời còn ở trong trại tị nạn Thái Lan tôi may mắn tiếp xúc với cuốn Practical English Usage của Michael Swan, đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Thoạt đầu tôi chỉ đọc để nhập tâm, nhưng sau này tôi thấy như vậy chưa khá, phải viết xuống. Viết xuống bằng tiếng Việt. Sau vài tháng tôi phát hiện quyển vở của mình đã trở thành một bản dịch của cuốn sách mình học! Bài học ở đây là cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và nếu cần dịch sang tiếng Việt.

2. Mỗi ngày học một chữ, và học từ gốc

Mỗi ngày, cố gắng học một chữ tiếng Anh. Nhưng phải học cẩn thận và học cho hết chữ đó. Tôi muốn nói đến ngoài việc học để biết nghĩa của chữ đó, còn phải học (a) nguồn gốc của chữ này đến từ đâu; (b) những biến thể tính từ, động từ, danh từ của chữ; và (c) cách sử dụng như thế nào. Chẳng hạn như học chữ produce (động từ và danh từ), cần phải học thêm những biến thể như production, product, productive, v.v. phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ.

Từ điển Longman rất có ích cho việc học này. Từ điển Longman có chỉ cách phát âm, những chữ có cùng nghĩa hay phản nghĩa, và xuất xứ của chữ. Học được xuất xứ của chữ nó mở rộng kiến thức cho chúng ta. Chẳng hạn như xuất xứ của chữ ‘produce’ là từ tiếng Latin, ‘ producere, và chữ này thì có nghĩa là forward và to lead. Thật thú vị!  Do đó, nói là học một chữ một ngày, nhưng thật ra là có khi học được 10 chữ. Cách học này rất tốt, vì nó giúp cho chúng ta có căn bản tốt và biết chữ từ gốc chứ không phải từ ngọn. Biết cái gì từ gốc vẫn hay hơn biết từ ngọn.

Ngữ vựng cực kì quan trọng. Theo tôi, có một kho tàng ngữ vựng tốt còn có giá trị hơn là am hiểu cú pháp và văn phạm. Thời gian chúng ta có thể tiếp thu ngữ vựng có hạn, còn thời gian chúng ta học văn phạm thì không giới hạn. Theo một nghiên cứu, số chữ cần thiết để học tiếng Anh được phân chia như sau:

  • trình độ sơ đẳng, giao tiếp: 250 – 500 chữ (words)
  • trình độ đàm thoại: 1000 – 3000 chữ
  • trình độ ‘advanced’: 4000 – 10,000 chữ
  • trình độ thông thạo: trên 10,000 chữ
  • trình độ như người bản xứ: 10,000 đến 30,000 chữ.  

Do đó, tranh thủ mọi cơ hội để học ngữ vựng.

3. Mạnh dạn nói

Học tiếng Anh là phải học nói. Mà, phát âm tiếng Anh không hề đơn giản. Một chữ có thể đọc hai cách khác nhau. Ví dụ như chữ ‘produce’ nếu là động từ thì phát âm khác với chữ ‘produce’ là danh từ!  

Tôi nhớ vài kinh nghiệm với phi hành đoàn Vietnam Airlines về địa danh “Kingsford Smith Airport“. Pilot và chiêu đãi viên VNA có thói quen đọc sai tên của phi trường là “King-sờ-fo Sờ-mit”. Lúc tôi mới đến đây, tôi cũng đọc như thế. Nhưng cách phát âm đó sai. Xe “Ford” thì đọc nhanh là “Fo”, nhưng từ điển “Oxford” thì lại đọc là “Oz-fớd”. Tương tự chữ “Kingsford” đọc đúng phải là ” Kingz-fớd”.

Rất nhiều người Việt cho dù ở Úc mấy mươi năm đọc sai tên người Úc gốc Anh. Những cái tên dễ đọc lầm là Cohen, Murray, Imogen, Lachlan, Cian, Joaquin, Nigel, v.v. Chẳng hạn như tên “Murray”, người không có kinh nghiệm đọc là “Ma-rây”. Sai. Phải đọc là “Mơ-ri”.

Một trong những điểm yếu của người Việt là chúng ta phát âm không tốt, từ đó dẫn đến ngại nói chuyện, vì sợ người đối diện không hiểu. Cá nhân tôi cũng trải qua kinh nghiệm này khi còn làm trong nhà bếp. Những ngày đó, tôi rất yếu về tiếng Anh và nói nhiều khi chẳng ai hiểu, nên cứ mỗi lần có điện thoại reo là tôi rất … sợ. Sợ trả lời vì mình nói mà bên kia không hiểu thì rất phiền phức cho công việc. Nhưng anh bạn làm chung biết điểm yếu đó và muốn giúp tôi, nên cứ mỗi lần điện thoại reo, anh ta chỉ tôi phải nghe và trả lời điện thoại. Ấy thế mà vài lần tôi quen, quen với những câu chữ mình phải/nên nói khi bắt điện thoại, quen với phát âm, quen với chữ trong nghề (lúc nào cũng học ngữ vựng), và quen với cách nhấn giọng, v.v. Từ quen tôi trở thành tự tin hồi nào không hay! Do đó, bài học tiếng Anh có hiệu quả là phải mạnh dạn nói. Nói sai thì sửa. Nói người ta không hiểu thì nói lại. Nói chữ nào người ta không rõ thì mình đánh vần cho họ hiểu.

Tôi cũng phải mở ngoặc để chia sẻ một kinh nghiệm lí thú ở đây về chuyện phát âm. Có một số người ngoại quốc, vì lí do nào đó (có thể muốn trêu chọc hoặc muốn làm nhục) nên giả bộ họ không hiểu mình nói. Cách họ làm thường là “I beg your pardon” 2,3 lần, hoặc nghễnh tai làm như họ không nghe hay nghe mà không hiểu. Tôi có quá nhiều kinh nghiệm, nên chỉ cần nhìn qua là biết người không hiểu thật là là người muốn hạ nhục. Họ đặc biệt thích làm điều đó (hạ nhục / trêu chọc) với các nạn nhân người Á châu. Nếu chúng ta tự tin rằng chúng ta nói rõ mà họ làm điều đó, thì chúng ta có thể nói thẳng cho họ biết “đừng chơi trò với tao”. Tôi đã làm vài lần với vài người. Có một lần một anh  người Úc, hắn cứ đưa cái tai gần tôi làm như anh ta không hiểu tôi nói gì; cách tôi phản ứng là tôi thản nhiên ghé vào tai hắn và nói thật lớn để mọi người chung quanh nghe: “Tôi nói cho hàng trăm, hàng ngàn người, và họ hiểu & ghi chép những gì tôi nói. Vậy thì anh  đừng có giả bộ không hiểu nhé. Cái trò này xưa lắm!” Một lần khác trong hội nghị, tôi cũng bị một người giả bộ “I beg your pardon” 2 lần dù tôi đã giải thích khá rõ và ban chủ toạ cũng đồng ý, nhưng đến lần thứ hai thì tôi mất kiên nhẫn và có phản ứng: “cả hội trường này gần 1000 người, ai cũng hiểu tôi nói, những thuật ngữ tôi dùng ai trong ngành đều biết, vậy mà ông không hiểu và không biết, tôi nghĩ đó là vấn đề của ông chứ không phải vấn đề của tôi.” Đừng bao giờ tỏ ra “dưới cơ” khi đối đầu với những kẻ muốn gây chuyện như thế.

4. Học từ báo chí và truyền thông

Báo chí và truyền thông là phương tiện rất có ích để học phát âm. Thời 1980s, dĩ nhiên là chưa có internet, nên mỗi ngày tôi phải mua tờ nhật báo Sydney Morning Herald về, và đọc những bản tin chính. Đó là một tờ báo cực kì nổi tiếng và hay. Chắc chắn không bằng tờ New York Times, nhưng phong phú thì chẳng kém gì Los Angeles Times. Thông thường, mỗi bản tin thời sự, họ có dùng một vài chữ “mới” (mới với tôi), hay những chữ mang tính địa phương. Dĩ nhiên, tôi chưa đủ trình độ để hiểu hết nội dung bản tin, nhưng mò mẩm bằng từ điển thì cũng nắm được những bản tin chính.

Chẳng hạn như có lần báo chí nói đến thái độ của đương kim thủ tướng lúc đó (Paul Keating) là recalcitrant. Tôi chẳng hiểu chữ này có nghĩa gì đến khi truy trong từ điển Longman. Nhưng mỗi ngày “khám phá” được một chữ mới như thế làm cho mình có lí do để vui sống và học tập.

Điều quan trọng là biết phát âm những chữ mới, và tôi phải đợi đến buổi chiều, bậc tivi để nghe người đọc tin, và học cách phát âm từ họ. Ở Úc (và nơi khác chắc cũng vậy), các bản tin chính in trên mặt báo thường được các đài truyền hình phát lại trong bản tin buổi tối của họ. Mặc dù họ không dùng những chữ giống như trên mặt báo, nhưng cách họ phát âm tên của nhân vật, những danh từ quan trọng trong câu chuyện, hay những chữ mà tôi rõ nghĩa nhưng không rõ cách phát âm, tôi đều học qua bản tin này. Có lần tôi không biết đọc chữ allowance ra sao, thì may quá, buổi chiều có tranh cãi về vụ này nên tôi mới biết cách phát âm. Học từ báo chí và tivi phải nói là rất có ích.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là đọc tin, mà học cách viết trong các bài chính luận. Những tay bỉnh bút viết chính luận thường là bậc thầy về tiếng Anh. Họ rất giỏi về viết và từ ngữ. Không chữ nào họ dùng trong bài viết là thừa. Có những người kì cựu như Alan Ramsey thì mỗi bài viết là mỗi bài học tuyệt vời cho tôi. Tôi học cách cấu trúc câu văn, dùng chữ cho tốt, và tinh tế. Sau này, khi hướng dẫn các bạn thế hệ sau về cách viết bài báo khoa học tôi vẫn lấy ví dụ của Alan Ramsey ra làm ví dụ.

Sau này, tôi còn học thêm một người khác về kĩ năng tiếng Anh: người đó là Samuel P. Huntington. Ông là một giáo sư chính trị học nổi tiếng của Mĩ. Nhưng ngoài chuyên môn đó, ông là một người viết văn tuyệt vời. Các bạn nếu có dịp nên tìm đọc những bài luận văn của ông ấy, và sẽ thấy từ cấu trúc ý tưởng, đến triển khai bằng tiếng Anh, tất cả đều xảy ra một cách logic. Quan trọng hơn là ông dùng chữ chính xác, những câu văn trong đoạn văn ăn khớp với nhau một cách nhịp nhàng, không chê vào đâu được. Tôi thấy mỗi bài luận văn của ông là mỗi bài học mới về viết bằng tiếng Anh.

5. Đọc sách văn học

Sau này, tôi phát hiện rằng để trao dồi tiếng Anh cho tốt, cần phải đọc sách văn học. Nhấn mạnh là sách văn học, chứ không phải tiểu thuyết vớ vẩn mà các nhà sách ở Việt Nam bày bán đầy kệ sách. Ngày xưa, tôi thích đọc truyện của Ernest Hemingway (Giải Nobel Văn Học 1954), và hai cuốn sách làm tôi mê mẩn là “The Old Man and the Sea” (Ông già và biển cả) và “For Whom the Bell Tolls” (Chuông gọi hồn ai). Hai cuốn này tương đối mỏng, nhưng những chữ ông dùng và cách cấu trúc câu văn phải nói là tuyệt vời, đáng để học.

Mới đây tôi đọc cuốn “The Refugee” của Nguyễn Thanh Việt, và học được vài điều từ cuốn tiểu thuyết. Đọc sách tiếng Anh của các tác giả gốc Việt giúp cho chúng ta học thêm những danh từ liên quan đến văn hóa Việt Nam. Chẳng hạn như để mô tả cái bàn thờ cho người phương Tây, có khi chúng ta lúng túng không biết dùng chữ gì cho đúng, nhưng các tác phẩm liên quan đến hay của tác giả gốc Việt thì chúng ta học được từ cũ mà ý nghĩa mới rất thích hợp. Đọc sách văn học, chúng ta học cái ‘wisdom’ của tác giả mà không phải ai cũng có. Chẳng hạn như đọc sách của Nguyễn Thanh Việt tôi rất tâm đắc với ý niệm rằng tất cả các cuộc chiến đều diễn ra hai lần; lần thứ nhất là ở chiến trường, lần thứ hai là ở kí ức (“All wars are fought twice: the first time on the battlefields, the second time in memory“). Hay như câu “Tàn sát là vũ khí của kẻ mạnh. Chết là vũ khí của kẻ yếu. Không phải kẻ yếu không có khả năng tàn sát; cái sức mạnh lớn nhất của kẻ yếu là ở sự sẵn sàng chết nhiều hơn kẻ mạnh.”

Đọc sách văn học còn là dịp để thấy sự khác biệt giữa văn chương khoa học và văn chương văn học. Văn chương khoa học có khi rất cứng nhắc, khô khan, nhưng văn chương tiểu thuyết thì bóng bẩy và hình tượng. Học tiếng Anh từ những từ ngữ bóng bẩy và hình tượng là cách làm giàu ngữ vựng tiếng Anh rất tốt. Chẳng hạn như để mô tả Little Sài Gòn, người làm khoa học sẽ dùng những câu chữ đơn giản (khoa học là phải đơn giản mà), nhưng với nhà văn thì họ sẽ mô tả đó là những công trình kí ức chiến lược hay là hiện thân của giấc mơ Mĩ ở người Việt di cư. Chúng ta học từ những cânhanh  sẽ làm giàu ngữ vựng rất nhanh như thế.

***

Những kinh nghiệm trên, dĩ nhiên, chỉ áp dụng cho những người mới học tiếng Anh. Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa là học phải có cuốn sổ ghi chép. Đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ đọc và nhập tâm là đủ. Đừng bao giờ nghĩ như thế! Tôi nghiệm ra là học là phải có sờ, phải viết xuống, phải có “hành động” thì mới có hiệu quả. Sờ con chữ có nghĩa là lấy bút màu tô đậm những chỗ mình thích. Viết xuống để mình nhớ, để có cảm nhận trực tiếp. Nếu chỉ đọc một qui định văn phạm thì chưa đủ, mà phải viết xuống thì mới dễ nhớ. Viết có hiệu quả rất tuyệt vời trong cảm nhận mà có khi chúng ta không để ý.

Nguyên tắc học hành là phải có thành quả. Mỗi ngày phải học được một cái gì mới, hoặc là một chữ mới, hoặc là một câu văn hay, hoặc là một luật văn phạm, v.v. nhưng phải có một cái mới. Học mà không có cái mới thì rất dễ chán. Do đó, phải tự đặt mục tiêu có thành quả mỗi ngày như tôi vừa nói.

Trên đây là vài kinh nghiệm cá nhân về tự học tiếng Anh của tôi. Mỗi người có vài kinh nghiệm, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân. Nếu tập hợp nhiều kinh nghiệm và phân loại tôi nghĩ sẽ giúp ích rất nhiều người. Nói ví von một chút, tiếng Anh là một chìa khoá quan trọng để mở cánh cửa tri thức. Do đó, trang bị cho mình một số kĩ năng quan trọng về tiếng Anh là một lợi thế vô cùng quan trọng khi tiếp xúc với người nước ngoài. Hi vọng những kinh nghiệm này có thể giúp ích các bạn đôi ba điều trong việc tự học tiếng Anh.

Nguồn: https://nguyenvantuan.info/2020/12/20/kinh-nghiem-tu-hoc-tieng-anh/?fbclid=IwAR3Akd2v1tcvK6G0hcxcDrHh2lx2p3cgdjNteFtktXoNfHqj9n1dV57qh1w

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2021

VƯỢT QUA HỘI CHỨNG: THẤT NGHIỆP Ở LƯNG CHỪNG LỘ TRÌNH.

Một học viên MBA tâm tư, em 15 năm làm cho tập đoàn của châu Âu, lương ổn định. Rồi chỉ sau một cuộc điện đàm, họ bảo do điều kiện kinh doanh thay đổi, chúng tôi không thể tiếp tục có anh, 15 phút nữa anh rời khỏi công ty, tiền đền bù chúng tôi đã chuyển vào TK. Đúng 15 phút sau, em không truy cập hệ thống máy tính được nữa. Em sốc thật sự. 40 tuổi phải ra ngoài, làm nhân viên thì quá già, làm quản lý không dễ xin, giờ đang tìm hướng đi.


Một kỹ sư 38 ôm cần câu bảo, giờ em chỉ còn niềm vui cuối tuần là đi câu, chứ em chán lắm rồi. Hơn chục năm đi làm cho công ty Nhật trong KCN, giờ họ cho em nghỉ, thì không biết phải làm gì.

Tương tự với một kỹ sư xây dựng hơn 40, mà vẫn nghĩ là càng ở lâu sẽ càng có giá. Nhưng công ty thông báo là kiến thức và kỹ năng bị cũ, không phù hợp vị trí công tác và công nghệ mới của công ty.

Đây là những câu chuyện điển hình mà tôi hay gọi là hội chứng thất nghiệp ở tuổi 35-40. Hiện tượng khá phổ biến trên thế giới với những nhân sự mang tâm lý tự mãn với hiện tại, thậm chí có xuất phát điểm thuận lợi, nhưng khi môi trường biến động và thay đổi nhanh, không thích ứng kịp.

Để thích ứng với tương lai, TS Harari tác giả 3 cuốn sách kinh điển cho TK21, cho rằng: các cá nhân và tổ chức không đơn thuần là học cái mới, đưa ra ý tưởng mới, mà phải liên tục tự làm mới để thích ứng.

Không chỉ học theo chuyên môn nghề nghiệp, mà mỗi người mỗi tổ chức, phải liên tục học hỏi những kỹ năng và kiến thức mới, nhằm tối ưu hiện tại, sẵn sàng chuẩn bị cho tương lai, và cả những lĩnh vực mới hay nghề nghiệp mới, theo phương thức: 70 : 20 : 10

Vị thế của mỗi người sẽ liên tục biến động, giá trị phụ thuộc vào sở hữu và học hỏi những kiến thức và kỹ năng sẽ được trả cao trong tương lai.

Sự thay đổi và biến động là thách thức hay cơ hội, phụ thuộc vào chất lượng chuẩn bị, khả năng tự làm mới, của cá nhân và tổ chức, để vượt qua hội chứng: thất nghiệp ở lưng chừng lộ trình.

Chia sẻ từ Anh Đỗ Tiến Long (FB: https://www.facebook.com/dotienlong).
Hình ảnh Google.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

WHY CERTAIN TYPES OF PRAISE CAN BACKFIRE


Professor Paul O Keefe
Praising intelligence can hinder children’s intellectual development. Instead, embrace a growth mindset and praise hard work and evolving abilities, which can lead to greater success.

We all enjoy being praised. It’s a quick ego-boost and makes us feel good about ourselves.  So it’s only natural that we want our kids to feel the same way. We think that if they feel good about themselves, then results and performance will follow suit. But are all praises created equal?
When a child excels at something, should you say: “Wow, you’re really smart”? Or is it better to go with: “Wow, you must have worked really hard on this”? Do the subtle differences even matter?
According to Dr Paul O’Keefe, Assistant Professor of Psychology at Yale-NUS College, research shows they do. Not all praises are the same and it is useful for parents and teachers to know the difference.
“When we praise intelligence, what we’re saying is that the reason you did well is that you have a natural ability,” he said. “So it’s communicating to them that intelligence is an entity that you have or you don’t.”
Such compliments present pitfalls. When kids believe that they have a fixed level of intelligence, they can struggle to overcome setbacks and failures.
Dr O’Keefe referred to a seminal study from 1998, conducted by two researchers, Claudia Mueller and Carol Dweck. Fifth-grade students were each given an easy task to complete, which they did successfully.
Half of them were then praised for their ability while the others were praised for their effort. When the children were asked to complete a second, highly challenging task, the results were startling.
“Those who were praised for their ability didn’t persist or perform well,” he explained. “The others who were praised for their effort did better, because they came to understand that their hard work would pay off on the second task as it did with the first.”

How a fixed mindset can be dangerous

This contrast in how children perform can be explained by “growth” versus “fixed” intelligence mindsets. When children are praised for their effort, they believe that they can become more capable with hard work, and is what psychologists call a growth mindset of intelligence.
However, praising children for intelligence leads them to believe that they excel due to innate qualities they possess. When they do not succeed, they tend to attribute it to not being smart enough. In other words, they develop a fixed mindset.
Dr O’Keefe shared that he was first exposed to the theory when he was a researcher at Yale University.
The theory gels with his personal experiences. “I had a fixed mindset when I was young. I was a defeatist,” he said. He explained that growing up, many people in his social environment had fixed mindsets too, and it influenced him to think that way, whether it was through what they said, or by observing how they responded to setbacks.
But after attending a lecture on this topic of mindsets, it set him thinking. “I thought to myself: what if I tried really hard? Let’s just see what happens. After that, I just started getting ‘A’s, and had one success after another, which reinforced the idea that intelligence was, in fact, developable” he said.

People also have mindsets about interest

In collaboration with Carol Dweck and Greg Walton of Stanford, Dr O’Keefe has examined fixed and growth mindsets in a different domain: people’s interests. Those with a fixed mindset tend to abandon budding interests when the tasks become difficult, he noted.
This is because people holding a fixed mindset of interest tend to believe that they possess an inherent interest that will make pursuing the new interest relatively easy once discovered. When they encounter challenges and setbacks, they may interpret it as a sign that it was not their true interest after all.
On the flipside, people with a growth mindset are more likely to persist. They believe that interests are developed over time rather than inherent, and therefore maintain interests when they become difficult to pursue.
“People with a growth mindset of interest maintain interests because they do not expect it to always be easy. They see interests as a developmental process, and every developmental process is going to have its ups and downs,” he said.

Developing a growth mindset in kids

How do you build a growth mindset in children?
First, when talking about intelligence, the manner in which parents offer feedback is critical. When kids fail or face setbacks, do not say: “You didn’t get it”. Instead, opt for a more positive one: “You haven’t gotten it yet”.
The latter phrasing could alter how children perceive the nature of their abilities. Rather than berating them for not being capable enough, suggest to them that they can improve and help them learn how to seek the right solutions. 
Feedback should gear children toward future improvement and not focus on past shortcomings, he added. This helps kids understand that every obstacle can be overcome with effort or the right strategy.
Second, when cultivating a child’s interests, do not maintain clear and strict delineation between subjects. Instead of saying a child is arts- or science-oriented, for example, keep the options open. Help children understand that different subjects are interconnected and that they can develop interests in many subjects; they do not have a predetermined set of interests.
“Why can’t you enjoy both the arts and sciences? Why can’t one area complement and enhance the other? Look at technology company Apple. It’s a perfect example of how the arts and technology can be integrated. You’ll often end up with more innovative ideas if you see connections among the disciplines rather than only within them,” said Dr O’Keefe, adding that the Yale-NUS Common Curriculum takes a multidisciplinary approach and combines both arts and science-related courses.
With regard to cultivating growth mindsets of intelligence and interest, parents also need to go beyond endorsing a growth mindset to living by example. When parents make an effort to pick up new skills and interests, they become role models to children who will better understand the concept of growth mindset where intelligence and interests are not fixed.
For example, parents could show their children—through their own actions—that they, too, believe their own interests are not fixed. They could pursue new interests and stick with them even when they get difficult, he shared. Parents may want to pursue a new subject, for instance. If you are trained in science, why not learn more about the arts, and try to pick up music, singing, or learn to play an instrument?
So it’s never too late to start developing another interest—or even another skill—today. When was the last time you learnt something new?
Source: schoolbag

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018

LUÔN NHÌN THẤY LỖI LẦM Ở NGƯỜI KHÁC: NỖI BẤT HẠNH LỚN LAO CỦA NHỮNG CÁI ĐẦU CHỨA ĐẦY THÀNH KIẾN

“Cách mà chúng ta nhìn người khác, thực chất là đang phản ánh nội tâm của chính mình. Một người đang túng thiếu sẽ thấy khó chịu với những ai dư giả. Một người sân hận sẽ luôn thấy người khác công kích và chọc tức mình. Một người không thành thật sẽ thấy mọi người đầy giả trá. Tất cả những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực đó, đều khởi sinh từ một tâm thức thiếu bình an. Nên điều mà chúng ta cần làm, là quay trở vào bên trong để nuôi nưỡng mảnh đất tâm mình vốn đang ngập đầy giông bão.”
Cuộc đời này ngắn lắm, chúng ta không thể quyết định được chiều dài của sinh mệnh, nhưng có thể tùy ý sử dụng chiều sâu của sinh mệnh, nhìn thế giới một cách thông suốt, giữ cho tâm không phê phán, hơn thua.
Có câu chuyện kể rằng, một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi.
“Tấm vải bẩn thật” – Cô vợ thốt lên. “Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một loại xà phòng mới thì giặt sẽ sạch hơn”. Người chồng nhìn cảnh ấy nhưng vẫn lặng im. Thế là, vẫn cứ lời bình phẩm ấy thốt ra từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân.
Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch, nên cô nói với chồng: “Anh nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết cách giặt tấm vải rồi. Ai đã dạy bà ấy thế nhỉ?”
Người chồng đáp: “Không. Sáng nay anh dậy sớm và đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”.
Thực ra mỗi người trong chúng ta, ai cũng đều giống như cô vợ trong câu truyện kia. Chúng ta đang nhìn đời, nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc, bám dày lớp bụi bặm của thành kiến và những kinh nghiệm thương đau. Chúng ta trở nên phán xét, bực dọc và bất an trước những gì mà tự mình cho là “lỗi lầm của người khác”.
Một điều dễ nhận diện là khi tâm trạng vui vẻ, chúng ta nhìn ai cũng thấy dễ chịu, gặp chuyện gì cũng dễ thứ tha. Chúng ta có thể mỉm cười trước những trò nghịch ngợm của lũ trẻ, đủ khoan thứ để nhẫn nại một lời nói khó nghe, những chuyện tưởng chừng khó chấp nhận, thì chúng ta cũng dễ dàng thỏa hiệp. Những lúc ấy, dường như cả thế giới đều trở nên hòa ái, mọi chuyện trôi qua một cách nhẹ nhàng.
Vậy mà, chỉ cần một chút lo lắng dâng lên trong lòng, những muộn phiền về quá khứ, nỗi sợ hãi về tương lai sẽ lập tức khiến cho cái thế giới vốn đang đẹp đẽ nhường kia liền biến thành một chốn đầy những chuyện xấu xa, phiền phức. Khi ấy những tiếng hò hét cười đùa của lũ trẻ sẽ trở thành những âm thanh khó chịu, một lời nói không vừa ý dễ dàng khiến cho ta sân giận hoặc tổn thương, những chuyện nhỏ mà lúc bình thường không đáng bận tâm, bỗng trở thành một nỗi phiền não quá sức chịu đựng.
Kỳ thực, không phải là thế giới có vấn đề, hay người khác quá sai quấy, mà vấn đề nằm chính ngay nơi tâm ta. Khi nhìn đời bằng cái tâm có vấn đề, mang đầy những cảm xúc và thành kiến tiêu cực, thì chúng ta thấy ai cũng thành sai quấy, đụng chuyện gì cũng hóa tổn thương.
mnm-03-1504710019649
Chúng ta luôn có hai xu hướng: nhìn những thứ mình thích, những người mình thương với cặp mắt kính màu hồng, và ngược lại, nhìn những việc mình không muốn, những người mình không ưa bằng chiếc kính tiêu cực màu đen.
Do thói quen phóng đại mọi ưu điểm của những người mình thích, họ trở nên quá lung linh, quá tuyệt vời trong cảm nhận của chúng ta. Mỗi lời họ nói, mỗi việc họ làm đều khiến chúng ta xem là chân lý, ngay cả lúc họ sai, chúng ta cũng khó lòng nhìn nhận cho thông suốt. Ví như những cặp đôi khi mới yêu nhau, thì riêng đối với họ, đối phương luôn đẹp đẽ, dễ thương và toàn ưu điểm. Nếu chẳng may phát hiện đối phương làm chuyện không tốt, thì chúng ta vẫn thừa khả năng và đủ lý lẽ để tự huyễn hoặc bản thân rằng họ không sai.
Hẳn nhiên, chính do cặp mắt kính màu hồng đã khiến cho cách nhìn của chúng ta hóa ra lệch lạc, chúng ta không thấy được mọi người đúng với bản chất chân thực như họ vốn là. Để rồi khi sự yêu thích bên trong mình giảm sút đi, thì hình tượng trong lòng cũng theo đó mà sụp đổ. Chúng ta nhìn ra ở đối phương ngày càng nhiều lỗi lầm và khuyết điểm, chúng ta trở nên hoang mang đau khổ, đến nỗi hoài nghi ngay cả chính bản thân mình.
Điều tương tự cũng xảy ra đối với những người bị chúng ta coi thường, chỉ trích. Chúng ta xé to những sai lầm của họ, đi rêu rao những khuyết điểm mà chúng ta cho rằng thật khó chấp nhận làm sao. Rồi đến một lúc nào đó những người mà trong tâm trí ta vẫn xem như kẻ thù, lại sẵn sàng giúp đỡ và tử tế, thì liệu chúng ta có thể xem như không chút hổ thẹn với lương tâm?
Khi nói lỗi ở người khác, chúng ta vô tình truyền sang người nghe những cảm xúc tiêu cực, bất an. Dòng tâm thức của chúng ta cũng trở nên lộn xộn, đầy những rắc rối y như câu chuyện mà mình đang kể. Theo đó, ấn tượng mà ta để lại trong lòng những người khác chỉ là những cảm giác tiêu cực, để rồi một cách rất tự nhiên, họ sẽ áp dụng đúng sự phê phán, soi xét đó trở lại cho ta.
Hai thái cực nói trên, kể cả việc phóng đại những điều mình thích và phản ứng kịch liệt với điều mình không ưa, tựu chung đều là những cách nhìn thế giới còn chưa đúng đắn. Nên chăng, chúng ta hãy dùng cặp mắt sáng suốt của trí tuệ, dùng tâm thái thiện lương để nhìn nhận cuộc đời.
Thời gian đã khiến cho chúng ta mất đi cái nhìn trong sáng về thế giới, đánh mất những rung cảm hạnh phúc trước cuộc sống vốn đầy màu nhiệm và bình an. Chúng ta không có lúc nào dừng lại để chăm sóc chính mình, mà cứ mải chạy rong ruổi theo những suy nghĩ đúng sai, phải quấy về cuộc đời và về người khác.
Xét cho cùng, lỗi lầm dù của ai đi chăng nữa, vốn chẳng hề ảnh hưởng đến tư cách và phẩm chất của chúng ta. Nó chắc chắn không làm cho chúng ta trở nên đẹp đẽ gì hơn khi phê phán người khác. Mà chính thái độ tiêu cực, thói quen chỉ trích mới khiến chúng ta mắc lỗi với bản thân mình và xấu đi trong mắt của mọi người.
Tìm lỗi của người khác, là tự đem rác rưởi của họ về cất trong nhà. Mỗi phút chúng ta để tâm đến chuyện không tốt, thì mất đi một phút vui vẻ không thể lấy lại. Cuộc đời này ngắn lắm, sẽ chẳng ai có khả năng và trách nghiệm níu giữ cho ta những thời khắc sinh mệnh đang vùn vụt trôi qua. Vậy chúng ta có còn muốn phí hoài cuộc sống để đi phán xét những sai lầm của người khác?
Cách mà chúng ta nhìn người khác, thực chất là đang phản ánh nội tâm của chính mình. Một người đang túng thiếu sẽ thấy khó chịu với những ai dư giả. Một người sân hận sẽ luôn thấy người khác công kích và chọc tức mình. Một người không thành thật sẽ thấy mọi người đầy giả trá. Tất cả những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực đó, đều khởi sinh từ một tâm thức thiếu bình an. Nên điều mà chúng ta cần làm, là quay trở vào bên trong để nuôi nưỡng mảnh đất tâm mình vốn đang ngập đầy giông bão.
Bao nhiêu người trong số chúng ta vẫn đang hằng ao ước có được “một vé đi tuổi thơ”? Đã bao lâu rồi chúng ta không thể nở một nụ cười trọn vẹn? Chúng ta ao ước có được chút hồn nhiên, trong trẻo như trẻ nhỏ, để có thể dễ dàng hạnh phúc và dễ dàng thứ tha.
Nhưng tại ai đã làm cho chúng ta ngày càng trở nên khô cằn, nóng nảy và bất hạnh? Tại ai đã khiến chúng ta luôn cô đơn, lạc lõng ngay chính trong gia đình mình, giữa bạn bè mình và bên cạnh tám tỷ người trên trái đất này?
Là do chúng ta cố chấp mà đeo lên những cặp kính đầy phiền não, những cặp kính sai lầm ngăn cách chúng ta với hạnh phúc hiện tiền. Chỉ cần một lúc nào đó đủ dũng cảm tháo bỏ cặp kính ấy đi, thì cuộc đời sẽ hiện ra tươi mới, thế giới sẽ là chỗ để chúng ta trải nghiệm phúc lạc đủ đầy.
Nguồn: Trí thức trẻ

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2018

PHÁT BIỂU CỦA ĐÔ ĐỐC HOA KỲ WILLIAM H. MCRAVEN - TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TEXAS VÀO NGÀY 17/5/2014/ UNIVERSITY OF TEXAS AT AUSTIN 2014 COMMENCEMENT ADDRESS - ADMIRAL WILLIAM H. MCRAVEN





(Bài nói chuyện đầy ý nghĩa của Đô đốc Hoa Kỳ Bill McRaven với sinh viên tốt nghiệp năm 2014 của Đại học The University of Texas ngày 17-5-2014).
Nhiều thế hệ đã được cứu bởi một quyết định từ một người.

Đô đốc (Admiral) Bill McRaven là tướng Hải quân bốn sao bí ẩn nhất và luôn được bảo vệ cẩn mật. Trong khi các Đô đốc như Greenert, Gortney, Locklear thường xuyên xuất hiện trong các phương tiện truyền thông và trước Quốc hội, McRaven thì lại bí mật và tránh né mọi sự chú ý về mình.

Tuần rồi (trung tuần tháng 5-2014), sinh viên tốt nghiệp tại Đại học Texas ở Austin lại nhận được một sự “chiêu đãi” hiếm có, đó là bài nói chuyện đầy ý nghĩa và hóm hỉnh của Đô đốc Bill McRaven.

Dưới đây là bài nói chuyện của ông:

Kính thưa hiệu trưởng Powers, hiệu phó Fenves , các vị Trưởng khoa, các vị giáo sư, cùng gia đình và bạn bè, và quan trọng nhất là các tân sinh viên tốt nghiệp niên khoá 2014. Xin chúc mừng thành tích của các bạn.

Đã gần 37 năm từ ngày mà tôi tốt nghiệp UT.

Tôi nhớ rất nhiều điều về ngày hôm đó.

Tôi nhớ tôi đã bị nhức đầu từ một buổi tiệc nhậu (nguyên văn: “party”) đêm trước. Tôi chỉ nhớ là tôi đã có một bạn gái nghiêm túc, người mà tôi kết hôn sau này – đó là chuyện quan trọng cần nhớ – và tôi nhớ rằng tôi đã được nhận vào Hải quân ngày hôm đó.

Nhưng trong tất cả những điều tôi nhớ, thì tôi lại chẳng nhớ những ai là khách mời lên phát biểu trong buổi tối đó và tôi chắc chắn không nhớ bất cứ điều gì họ nói.

Vì vậy, phải thừa nhận 1 thực tế là nếu tôi không có thể làm cho bài phát biểu này đáng nhớ – thì ít nhất tôi sẽ cố gắng để làm cho nó ngăn ngắn.

Khẩu hiệu của Đại học UT là “Những gì bắt đầu ở đây sẽ làm thay đổi thế giới” (nguyên văn: “What starts here changes the world”).

Tôi phải thừa nhận, là tôi rất thích cái khẩu hiệu đó.

Tối nay có gần 8.000 sinh viên tốt nghiệp UT.

Trong 1 bảng phân tích khá chặt chẽ, mẫu mực của website “Ask.Com”, họ nói rằng trung bình 1 người Mỹ sẽ giao tiếp với khoảng 10.000 người khác trong suốt cuộc đời của mình.

Đó là con số rất lớn, rất nhiều người.

Nhưng, nếu mỗi người trong các bạn thay đổi cuộc sống của chỉ mười người và mỗi một người này làm thay đổi cuộc sống của mười người khác – vâng, chỉ mười mà thôi – thì sau đó trong năm thế hệ – tức là sau 125 năm – lớp sinh viên tốt nghiệp năm 2014 sẽ làm thay đổi cuộc sống của 800 triệu người.

800 triệu người – các bạn hãy suy nghĩ về con số này đi – nó nhiều hơn gấp đôi so với dân số Hoa Kỳ. Đi tiếp thêm một thế hệ nữa và bạn có thể thay đổi toàn bộ dân số thế giới – 8 tỷ người.

Nếu bạn cho rằng rất khó để thay đổi cuộc sống của mười người – tức là thay đổi cuộc sống của họ mãi mãi – thì bạn đã sai.

Tôi thấy nó xảy ra hàng ngày ở Iraq và Afghanistan.

Một sĩ quan bộ binh trẻ ra quyết định rẽ trái thay vì rẽ phải xuống một con đường ở Baghdad và mười quân nhân trong toán của anh đã được an toàn, tránh khỏi 1 cuộc phục kích.

Tại tỉnh Kandahar, Afghanistan, một nữ hạ sĩ quan cảm nhận điều gì đó khác lạ và đã chỉ đạo trung đội của cô ấy tránh thoát được khối chất nổ 500 cân gài bẫy họ, cứu được cuộc sống của hàng chục chiến sĩ.

Nhưng, không chỉ những người lính được cứu thoát bởi các quyết định từ một người, con cái của họ (chưa ra đời), cũng được cứu. Và con cái của con cái họ cũng được cứu.

Nhiều thế hệ đã được cứu bởi một quyết định từ một người.

Nhưng, thay đổi thế giới có thể xảy ra bất cứ nơi nào và bất cứ ai cũng đều có thể làm được điều đó.

Vì vậy, những gì bắt đầu ở đây đích thực có thể thay đổi thế giới, nhưng câu hỏi là …lúc đó thế giới sẽ trông giống như thế nào, sau khi bạn thay đổi nó?

Tôi tin tưởng rằng nó sẽ tốt hơn rất nhiều, và nếu các bạn làm cho tên thủy thủ già này vui vẻ trong chốc lát bằng cách giả bộ như đang chăm chú lắng nghe những gì mà tôi sẽ nói, một vài gợi ý có thể giúp các bạn trên con đường đi đến một thế giới tốt hơn.

Và trong khi những bài học này được rút ra trong thời gian tôi phục vụ quân đội, tôi có thể đảm bảo với các bạn rằng nó sẽ hữu ích, cho dù các bạn chưa từng một ngày mặc bộ quân phục.

Điều quan trọng không phải ở giới tính, dân tộc hay tôn giáo, hoặc địa vị xã hội của các bạn.

Cuộc đấu tranh của chúng ta trong thế giới này là tương tự nhau và những bài học để vượt qua những trở ngại để tiến lên – để thay đổi bản thân và thế giới xung quanh chúng ta, đều áp dụng chung được cho tất cả mọi người.

Tôi đã là một thành viên của Navy SEAL trong 36 năm (chú thích: Navy SEAL là lượng lực đặc nhiệm tinh nhuệ của Hải quân Mỹ – SEAL: Sea-Air-Land). Nhưng tất cả chỉ bắt đầu sau khi tôi tốt nghiệp UT để tham gia khoá đào tạo SEAL cơ bản ở Coronado, California.

Khoá đào tạo SEAL cơ bản trong sáu tháng, bao gồm những màn “tra tấn dai dẳng” (nguyên văn: “long torturous”) như chạy trên cát lún, nửa đêm bơi trong nước lạnh ở bờ biển San Diego, những cuộc rèn luyện vượt chướng ngại vật, những buổi tập thể dục thể hình dài vô tận, là những ngày không được ngủ, luôn bị lạnh, bị ướt và khổ sở.

Đó là sáu tháng liên tục bị quấy rối bởi các huấn luyện viên chuyên nghiệp, họ luôn tìm kiếm những điểm khiếm khuyết về tâm lý và thể chất của các học viên để loại bỏ họ ra khỏi Navy SEAL.

Nhưng, khoá huấn luyện cũng nhằm tìm kiếm những học viên có tư chất chỉ huy, có thể dẫn dắt đồng đội trong một môi trường căng thẳng liên tục, hỗn loạn, trong những thời điểm gặp thất bại và khó khăn.

Với tôi khoá đào tạo cơ bản SEAL chính là những thử thách trong cả đời người được nhồi nhét vào trong sáu tháng.

Vì vậy, đây là 10 bài học mà tôi đã học được từ khoá huấn luyện cơ bản SEAL, hy vọng sẽ có giá trị cho các bạn khi dấn bước trên đường đời.

Mỗi buổi sáng trong khoá đào tạo SEAL cơ bản, người huấn luyện viên – vào thời điểm đó tất cả các HLV đều là cựu chiến binh Việt Nam – sẽ đến các doanh trại và điều đầu tiên họ sẽ kiểm tra là giường của học viên.

Nếu học viên làm đúng, các góc giường sẽ vuông cạnh (ý tác giả muốn nói đến tấm drap trải giường), các bao gối được kéo thẳng, phẵng phiu, cái gối đầu phải được đặt ngay dưới trung tâm của 2 thanh đầu giường, và cái mền phụ (chú thích: mỗi học viên được cấp 2 cái mền) gấp gọn gàng dưới chân của rack – rack là từ của Hải quân dùng để chỉ cái giường.

Đó là một nhiệm vụ rất đơn giản, rất trần tục. Thế nhưng mỗi buổi sáng chúng tôi ai nấy cũng phải dọp dẹp giường của mình 1 cách gọn gàng, hoàn hảo. Chuyện này có vẻ hơi ngây ngô vào thời điểm đó, nhất là dưới ánh sáng của 1 thực tế hiển nhiên là các học viên đang ước vọng trở thành những chiến binh SEAL thực sự, được tham dự những trận chiến khó khăn đầy chông gai – nhưng, sự “trí tuệ” (nguyên văn: “wisdom”) của hành động tưởng như đơn giản này đã được minh chứng với tôi nhiều lần.

Nếu bạn dọn dẹp giường của bạn mỗi buổi sáng, tức là bạn đã hoàn thành nhiệm vụ đầu tiên trong ngày. Nó sẽ mang lại cho bạn một niềm tự hào nhỏ, nó sẽ khuyến khích bạn làm tốt nhiệm vụ kế và các nhiệm vụ khác tiếp theo sau.

Đến cuối ngày, từ một nhiệm vụ đầu tiên hoàn thành sẽ biến thành nhiều nhiệm vụ hoàn thành. Hành động dọn dẹp giường của các bạn cũng sẽ làm cũng cố cho 1 thực tế là những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống rất đáng được quan tâm.

Nếu các bạn không thể làm tốt những việc nhỏ nhặt, các bạn sẽ không bao giờ làm tốt được những điều lớn.

Và, nếu như bạn có một ngày không như ý, bạn trở về nhà và thấy một chiếc giường đã gọn gàng, ngăn nắp – do chính tay bạn làm – điều đó sẽ cho bạn niềm động viên là ngày mai sẽ tốt hơn.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, hãy bắt đầu bằng cách dọn dẹp ngăn nắp giường của các bạn.

Trong khoá đào tạo SEAL các học viên được chia thành nhiều toán. Mỗi toán gồm bảy học viên – chia ra ba người ngồi mỗi bên của một chiếc xuồng cao su nhỏ, và một người điều khiển hướng đi cho xuồng.

Mỗi ngày các toán mang xuồng ra bãi biển và được hướng dẫn cách vượt qua các con sóng và chèo vài dặm dọc theo bờ biển.

Vào mùa đông, những con sóng ở bờ biển San Diego có thể cao từ 8 đến 10 feet (chú thích: 2,4m – 3 m), cực kỳ khó khăn để lướt qua chúng, trừ khi tất cả mọi người cùng chèo.

Tất cả nhịp chèo phải đồng bộ theo nhịp đếm của người điều khiển. Mọi người phải nổ lực hết sức, bằng không xuồng sẽ bị các làn sóng xô ngược lại và sẽ bị ném thô bạo lên trên bãi biển.

Để làm cho xuồng đến đích, thì tất cả mọi người phải cùng nhau chèo.

Một mình bạn không thể thay đổi thế giới – bạn sẽ phải cần những sự trợ giúp – và thật sự để đi được từ điểm khởi đầu đến đích cần phải có bạn bè, đồng nghiệp, sự nhã ý của những người không quen và một trưởng nhóm có năng lực để hướng dẫn mọi người.

Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, hãy tìm thấy một người nào đó để trợ giúp bạn chèo chống.

Sau một vài tuần luyện tập khó khăn, khoá đào tạo SEAL mà tôi tham gia bắt đầu với 150 người đã giảm xuống chỉ còn 35. Bây giờ còn lại sáu 6 toán với 7 người trên mỗi xuồng.

Tôi được xếp chung toán với những học viên cao to, nhưng toán giỏi nhất lại toàn là những học viên nhỏ con – chúng tôi gọi họ là toán Munchkin (chú thích: nhỏ bé, xinh xắn) – không có ai trong toán này cao hơn 5,5 foot (chú thích: 1.67m).

Toán Munchkin gồm có một người Mỹ gốc da đỏ, một người Mỹ gốc châu Phi, một người Mỹ gốc Ba Lan, một người Mỹ gốc Hy Lạp, một người Mỹ gốc Ý, và hai thanh niên trẻ nhưng gan lỳ đến từ miền Trung Tây nước Mỹ.

Họ chèo xuồng, chạy bộ và bơi lội nhanh hơn tất cả các toán khác.

Những học viên cao lớn trong các toán khác thường cười cợt, trêu chọc khi thấy các thành viên của toán Munchkin xỏ những bàn chân nhỏ nhắn của họ vào những đôi chân vịt cũng… nhỏ nhắn trước khi bơi lội.

Nhưng bằng cách nào đó, những học viên nhỏ con này, họ đến từ mọi ngóc ngách của nước Mỹ và thế giới, luôn luôn là những người có tiếng cười sau cùng – (nguyên văn: “had the last laugh” đây là 1 thành ngữ Mỹ, tương tự như 1 thành ngữ VN “Cười người hôm trước, hôm sau người cười”) – họ bơi nhanh hơn so với tất cả mọi người và đến bờ trước chúng tôi rất lâu.

Khoá đào tạo SEAL là một sự bình đẵng tuyệt vời. Không có gì có thể giúp bạn đạt được thành công ngoài ý chí của bạn, chứ không phải đó là màu da, chủng tộc, học thức, hay địa vị xã hội của bạn đâu.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, hãy đo lường con người bởi kích thước của trái tim của họ, chứ không phải là kích thước cái chân vịt của họ.

Vài lần trong tuần, các giảng viên sẽ cho cả lớp xếp hàng để kiểm tra quân phục. Việc kiểm tra này luôn luôn được tiến hành 1 cách kỹ lưỡng khác thường.

Mũ đội phải được hồ cứng 1 cách hoàn hảo, quân phục phải ủi thẳng nếp, khóa thắt lưng phải sáng bóng và không được có bất kỳ 1 vết tì ố nào.

Nhưng, bất kể bao nhiêu nỗ lực mà bạn đã dùng để hồ cứng chiếc mũ, ủi kỷ càng bộ quân phục, hoặc đánh bóng loáng cái khóa thắt lưng – cũng vẫn chưa đạt.

Các giảng viên sẽ tìm ra “1 sai phạm gì đó” để phạt bạn.

Và vì kiểm tra quân phục không đạt, các học viên phải chạy, với nguyên quần áo, lao vào sóng biển, và sau đó, ướt từ đầu đến chân, lăn trên bãi biển cho đến khi tất cả toàn thân bị bao phủ bởi cát.

Tên gọi của vụ này là “bánh tẩm đường” (nguyên văn: “sugar cookie”). Bạn phải vận bộ quân phục đó cho đến hết ngày – lạnh, ẩm ướt và đầy cát biển.

Có rất nhiều học viên không thể chấp nhận 1 thực tế là tất cả các nỗ lực của họ đều là vô ích. Bất kể là họ đã cố gắng đến cỡ nào – để những bộ quân phục trông chỉnh tề, đúng quân cách – đều bị đánh giá thấp.

Những học viên đó đã không vượt qua nổi khoá huấn luyện.

Những học viên đó không hiểu mục đích của sự huấn luyện. Bạn sẽ không bao giờ thành công. Bạn sẽ không bao giờ có một bộ đồng phục hoàn hảo.

Đôi khi, cho dù bạn đã chuẩn bị hay thực hiện 1 kế hoạch kỹ càng đến mấy đi chăng nữa, thì kết quả vẫn cho ra một cái “bánh tẩm đường”.

Đôi khi, cuộc sống là như vậy.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, hãy vượt qua thân phận của một cái “bánh tẩm đường” và tiếp tục tiến về phía trước.

Mỗi ngày, trong thời gian đào tạo, bạn phải đương đầu với nhiều thử thách thể chất khác nhau – chạy, bơi, các khóa học vượt chướng ngại vật, thể dục thể hình – Những thứ đó được sắp đặt ra để thử thách dũng khí của bạn.

Mỗi sự kiện có những tiêu chuẩn – thời gian mà bạn phải đáp ứng. Nếu bạn thất bại trong việc đáp ứng những tiêu chuẩn đó, tên của bạn sẽ được đăng trên một danh sách và vào cuối ngày, những người có tên trên danh sách sẽ được mời đến một “rạp xiếc” (nguyên văn: “circus”).

“Rạp xiếc”: đó là phải tập thêm hai giờ thể dục – nó làm bạn kiệt sức, phá vỡ tinh thần của bạn để buộc bạn phải bỏ cuộc.

Không ai muốn đến “Rạp xiếc”.

Đến “Rạp xiếc” có nghĩa là ngày đó bạn không đạt tiêu chuẩn. Đến “Rạp xiếc” có nghĩa là nhiều mệt mỏi hơn, và mệt mỏi hơn có nghĩa là ngày hôm sau sẽ khó khăn hơn – và có khả năng sẽ phải đến viếng “Rạp xiếc” thường xuyên hơn nữa.

Trong quá trình đào tạo SEAL, tất cả mọi học viên không ai thoát khỏi bảng phong thần này, mọi người đều có tên trong danh sách đến “Rạp xiếc”.

Nhưng, một điều thú vị đã xảy ra với những người thường xuyên có tên trong danh sách “Rạp xiếc” – Những người phải chịu thêm hai giờ tập thể dục – đã càng ngày càng cứng cáp, mạnh mẽ hơn.

Nỗi “thống khổ” khi phải đến “Rạp xiếc” đã bồi đắp nên 1 sức mạnh tinh thần – và xây dựng khả năng phục hồi thể chất.

Cuộc sống đầy những “Gánh xiếc”.

Các bạn sẽ thất bại. Các bạn có thể sẽ phải chịu thất bại thường xuyên. Thất bại sẽ làm các bạn đau đớn. Thất bại sẽ làm các bạn chán nản, thất vọng. Nhưng thất bại là liều thuốc thử để kiểm tra cốt lõi giá trị của các bạn.

Nếu bạn muốn thay đổi thế giới, đừng sợ “Rạp xiếc”.

Ít nhất hai lần mỗi tuần, các học viên phải tham gia chạy vượt qua các chướng ngại vật. Tất cả gồm có 25 chướng ngại vật khác nhau, trong đó có 1 bức tường cao 10 foot, 1 tấm lưới cao 30 foot, và một hang rào dây thép gai dùng cho việc tập luyện bò trườn.

Nhưng chướng ngại vật khó khăn nhất là “cú trượt sinh tồn” (nguyên văn: “the slide for life”). Nó gồm 2 cái tháp, một tháp 3 tầng, cao 30 foot nằm một phía và một cái tháp một tầng nằm ở đầu kia. Hai toà tháp được nối liền bởi một dây thừng dài 200 foot.

Bạn phải leo lên tầng ba của tháp và khi lên đến đỉnh tháp, bạn nắm lấy sợi dây thừng, đong đưa bên dưới sợi dây thừng và dùng tay kéo thân hình, di chuyển đến đầu bên kia.

Kỷ lục vượt chướng ngại vật này đã đứng vững trong nhiều năm qua cho đến khoá đào tạo của chúng tôi vào năm 1977.

Kỷ lục này dường như “bất khả chiến bại” (nguyên văn: “unbeatable”), cho đến một ngày, một học viên đã quyết định thử thách chướng ngại vật “Cú trượt sinh tồn” này bằng cách trượt với tư thế cho đầu xuống trước.

Thay vì đong đưa cơ thể của mình dưới sợi dây thừng và nhích cả thân hình xuống, anh nằm lên trên sợi dây và đẩy thân mình về phía trước.

Đó là 1 cách di chuyển nguy hiểm – dường như điên cuồng, và đầy rủi ro. Nếu thất bại có nghĩa là chấn thương và bị loại khỏi khoá huấn luyện.

Không chút do dự – người học viên trượt theo sợi dây thừng xuống – nhanh 1 cách nguy hiểm, và thay vì vài phút, anh ta chỉ mất một nửa thời gian, anh đã phá được kỷ lục.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, đôi khi các bạn phải lao xuống để đương đầu với trở ngại.

Đến giai đoạn huấn luyện cách chiến đấu trên bộ, các học viên được máy bay đưa ra đảo San Clemente nằm ngoài khơi của San Diego.

Vùng biển ở San Clemente là một nơi có rất nhiều cá mập trắng lớn. Để được tốt nghiệp khóa huấn luyện SEAL, các học viên phải hoàn thành các loạt các bơi đường trường. Bơi đêm là một trong các loạt bơi đó.

Trước khi xuất phát, các giảng viên thông báo cho học viên với vẻ “hân hoan” (nguyên văn: “joyfully”) về tất cả các loài cá mập sinh sống ở vùng biển ngoài khơi San Clemente.

Tuy nhiên, họ cũng đảm bảo là chưa từng có học viên nào bị cá mập làm thịt cả, ít nhất là trong thời gian gần đây.

Nhưng, các học viên cũng được dạy rằng nếu một con cá mập bắt đầu lượn lờ quanh vị trí của bạn theo vòng tròn – hãy giữ vững vị trí của bạn. Không bơi đi. Không tỏ ra sợ hãi.

Và nếu những con cá mập đang đói, cần một bữa ăn nhẹ nửa đêm (nguyên văn: “a midnight snack”), phóng về phía bạn – thì hãy dồn hết sức mạnh đấm vào mõm cá, tất sẽ làm nó bỏ cuộc.

Có rất nhiều cá mập trên thế giới này. Nếu các bạn hy vọng sẽ hoàn tất 1 cuộc bơi lội, thì các bạn sẽ phải đối phó với chúng.

Vì vậy, nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, đừng lùi bước trước những con cá mập.

Một trong những công việc của Navy SEALs là tiến hành các cuộc tấn công dưới nước vào tàu chiến của địch. Chúng tôi thực hành kỹ thuật này 1 cách rất phổ biến trong quá trình huấn luyện cơ bản.

Nhiệm vụ tấn công tàu là nơi mà 2 Navy SEAL sẽ được thả xuống ở ngoài xa một bến cảng của đối phương và sau đó lặn hơn hai dặm (chú thích: hơn 3km) – dưới mặt nước – không sử dụng bất cứ dụng cụ gì, ngoài một cái thước đo độ sâu và một la bàn để định hướng mục tiêu.

Trong toàn bộ quá trình bơi lặn, thậm chí sâu dưới nước nhưng vẫn có một số ánh sáng xuyên qua được. Học viên vẫn còn chút ít cảm giác thoải mái khi biết rằng có 1 mặt nước rộng mở ở trên đầu của họ (nguyên văn: “open water”).

Nhưng khi bạn tiếp cận đến con tàu đang cập cảng, thì ánh sáng bắt đầu mờ dần. Các kết cấu thép của con tàu chận mất ánh trăng – che mất các ánh đèn đường – cùng tất cả ánh sáng xung quanh.

Để thành công trong nhiệm vụ, bạn phải lặn dưới con tàu và tìm ra cho được lườn tàu – tức là đường trung tâm và phần sâu nhất của con tàu.

Đây là mục tiêu của bạn. Nhưng lườn tàu cũng là nơi tăm tối nhất của con tàu, là nơi bạn không thể nhìn thấy bàn tay của mình dù có để nó ngay trước mặt, nơi mà tiếng ồn từ máy móc của con tàu làm chói tai, rất dễ dàng làm cho bạn bị mất phương hướng và bỏ cuộc.

Mỗi thành viên Navy SEAL đều biết rằng dưới lườn tàu, tại thời điểm đen tối nhất của nhiệm vụ – là thời điểm bạn phải bình tĩnh, tập trung – là khi tất cả các kỹ năng chiến thuật, sức mạnh thể chất và tất cả sức mạnh nội tâm của bạn đều phải mang ra hết để chống đỡ.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, các bạn phải đem ra những tốt nhất trong con người bạn để đương đầu ở thời điểm đen tối nhất.

Tuần thứ chín của khóa huấn luyện được gọi là “tuần lể địa ngục” (nguyên văn: “Hell Week”). Đó là sáu ngày không ngủ, liên tục bị quấy rối về thể chất và tinh thần và một ngày đặc biệt tại “bãi bồi” (nguyên văn: “mud flats”) – “bãi bồi” là 1 vùng nằm giữa San Diego và Tijuana, nơi nước chảy đi và tạo ra các vũng bùn Tijuana – đó là một khu vực có địa hình đầm lầy, nơi mà bùn sình sẽ nhấn chìm bạn.

Đó là vào ngày thứ tư (Wednesday) của “tuần lể địa ngục”, bạn phải chèo đến “bãi bồi” và trong 15 giờ tiếp theo phải cố gắng để tồn tại dưới lớp bùn lạnh cóng, trong tiếng gió hú và áp lực không ngừng từ các huấn luyện viên luôn thúc giục, kêu gọi các học viên bỏ cuộc.

Thứ tư, khi mặt trời bắt đầu lặn thì lớp của tôi bị cho là đã “vi phạm nghiêm trọng các quy tắc” (nguyên văn:”egregious infraction of the rules”)được lệnh phải dầm mình dưới bùn.

Bùn “nuốt chững” các học viên cho đến khi không có gì có thể nhìn thấy được ngoài những cái đầu của chúng tôi. Các giảng viên nói với chúng tôi là mọi người sẽ được lên bờ nếu có năm người chịu bỏ cuộc – chỉ cần năm người thôi là chúng tôi có thể thoát ra khỏi cái lạnh đầy ức chế này.

Nhìn xung quanh bãi bồi thì rõ ràng là có một số học viên gần như muốn đầu hàng. Vẫn còn hơn tám tiếng đồng hồ nữa cho đến khi mặt trời lên – hơn tám giờ với cái lạnh thấu xương (nguyên văn: “bone chilling cold”).

Tiếng của các hàm răng va vào nhau lập cập và tiếng run rẩy rên rỉ của các học viên lớn đến nỗi rất khó để nghe bất cứ tiếng động nào khác.

Nhưng sau đó, có một âm thanh bắt đầu vang vọng trong đêm – một giọng hát được cất lên.

Một giọng hát trật nhịp “khủng khiếp” (nguyên văn: “terribly out of tune”), nhưng được hát với sự nhiệt tình.

Một giọng hát đã trở thành hai và từ hai trở thành ba và không lâu sau đó, tất cả mọi người trong lớp đều hát.

Chúng tôi biết rằng nếu một người có thể vượt lên trên những đau khổ thì những người khác cũng có thể làm được.

Các giảng viên bị đe dọa chúng tôi sẽ phải bị ở lâu hơn trong bùn nếu còn tiếp tục hát, nhưng chúng tôi vẫn cứ hát.

Và không hiểu tại sao – bùn có vẻ như ấm áp hơn một ít, gió như trở nên “thuần tính” (nguyên văn: “a little tamer”), và bình minh thì không còn quá xa.

Nếu như tôi đã học được bất cứ điều gì trong cuộc đời tôi khi bôn ba trên thế giới, thì đó chính là sức mạnh của niềm hy vọng. Sức mạnh của một người – Washington, Lincoln, King, Mandela và thậm chí một cô gái trẻ từ Pakistan – Malala – một người có thể thay đổi thế giới bằng cách trao niềm hy vọng cho mọi người.

Vì vậy, nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, hãy bắt đầu cất tiếng hát ngay cả khi các bạn đang bị lún lên đến tận cổ trong bùn lầy.

Cuối cùng, trong khóa huấn luyện SEAL có một cái chuông. Đó là 1 cái chuông đồng được treo ở trung tâm của doanh trại để tất cả các học viên đều nhìn thấy.

Khi bạn muốn bỏ cuộc – Tất cả những gì bạn phải làm là chỉ cần rung chuông. Rung chuông và bạn không còn phải thức dậy lúc 5 giờ sáng. Rung chuông và bạn không còn phải bơi lội trong cái lạnh băng giá.

Rung chuông và bạn không còn phải chạy, phải vượt các chướng ngại vật, tập thể lực (PT) – và bạn không còn phải chịu đựng những cuộc huấn luyện, thử thách cam go.

Chỉ cần rung chuông.

Nếu các bạn muốn thay đổi thế giới, đừng bao giờ rung chuông.

Khóa tốt nghiệp năm 2014, các bạn đang ở những giây phút sau cùng trước lúc nhận bằng tốt nghiệp. Những giây phút ngắn ngủi trước khi các bạn bắt đầu bước vào hành trình cuộc sống. Đây là thời khắc để các bạn bắt đầu thay đổi thế giới theo hướng tốt hơn.

Nó sẽ không dễ dàng đâu.

Nhưng, các bạn là những sinh viên tốt nghiệp niên khóa 2014 – một niên khóa có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của 800 triệu người trong thế kỷ tới.

Hãy bắt đầu mỗi ngày với một nhiệm vụ hoàn thành.

Hãy tìm một người nào đó để giúp bạn trong cuộc đời.

Hãy tôn trọng tất cả mọi người.

Biết rằng cuộc sống là không công bằng và rằng bạn sẽ thường xuyên vấp ngã, nhưng nếu các bạn dám chấp nhận rủi ro, dám tiến lên trong những thời điểm khó khăn nhất, dám đối mặt với những kẻ bắt nạt, nâng đỡ những người bị áp bức và không bao giờ…không bao giờ bỏ cuộc – nếu các bạn làm được những việc này, thế hệ tiếp theo và các thế hệ nối tiếp sẽ sống trong một thế giới tốt hơn nhiều so với thế giới của chúng ta ngày hôm nay, và những gì được bắt đầu ở đây sẽ thực sự thay đổi thế giới theo hướng tốt hơn.

Cám ơn các bạn rất nhiều. Xin chào (Hook ‘em Horns).

( “Hook ‘em Horns”, là khẩu hiệu và tín hiệu tay của Đại học Texas ở Austin được các sinh viên và cựu sinh viên của trường sử dụng như một lời chào bao gồm cụm từ “Hook’ em” hoặc “Hook ‘em Horns “, và cũng được sử dụng như một lời chia tay tạm biệt.)



HUY NGUYEN dịch và chú thích.

—————————

Đô Đốc (Admiral) Bill McRaven, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy hành quân đặc biệt Hoa Kỳ (Commander of United States Special Operations Command – USSOCOM). USSOCOM là một đạị đơn vị hỗn hợp các Lực lượng đặc biệt của Hải, Lục, Không quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Ông sinh ngày 6-11-1955 tại bang North Carolina, và tốt nghiệp Đại học UT năm 1977 và gia nhập Hải quân từ đó. Ông là người lập kế hoạch và điều phối chiến dịch lùng sục và tiêu diệt được trùm khủng bố quốc tế Osama bin Laden.

Đô đốc Bill McRaven năm 2012.



Đô đốc Bill McRaven và Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2011 khi ông còn là Phó Đô đốc (Vice Admiral)


NGUYÊN VĂN TIẾNG ANH BÀI NÓI CHUYỆN CỦA ĐÔ ĐỐC MCRAVEN NGÀY 17-5-2014 TẠI UT.


Admiral Bill McRaven at the University of Texas on May 17, 2014.

The following are the remarks by Naval Adm. William H. McRaven, ninth commander of U.S. Special Operations Command, at the University-wide Commencement at The University of Texas at Austin on May 17:

President Powers, Provost Fenves, Deans, members of the faculty, family and friends and most importantly, the class of 2014. Congratulations on your achievement.

It’s been almost 37 years to the day that I graduated from UT.

I remember a lot of things about that day.

I remember I had throbbing headache from a party the night before. I remember I had a serious girlfriend, whom I later married—that’s important to remember by the way—and I remember that I was getting commissioned in the Navy that day.

But of all the things I remember, I don’t have a clue who the commencement speaker was that evening and I certainly don’t remember anything they said.


So…acknowledging that fact—if I can’t make this commencement speech memorable—I will at least try to make it short.

The University’s slogan is,

“What starts here changes the world.”

I have to admit—I kinda like it.

“What starts here changes the world.”

Tonight there are almost 8,000 students graduating from UT.

That great paragon of analytical rigor, Ask.Com says that the average American will meet 10,000 people in their life time.

That’s a lot of folks.

But, if every one of you changed the lives of just ten people—and each one of those folks changed the lives of another ten people—just ten—then in five generations—125 years—the class of 2014 will have changed the lives of 800 million people.

800 million people—think of it—over twice the population of the United States. Go one more generation and you can change the entire population of the world—8 billion people.

If you think it’s hard to change the lives of ten people—change their lives forever—you’re wrong.

I saw it happen every day in Iraq and Afghanistan.

A young Army officer makes a decision to go left instead of right down a road in Baghdad and the ten soldiers in his squad are saved from close-in ambush.

In Kandahar province, Afghanistan, a non-commissioned officer from the Female Engagement Team senses something isn’t right and directs the infantry platoon away from a 500 pound IED, saving the lives of a dozen soldiers.

But, if you think about it, not only were these soldiers saved by the decisions of one person, but their children yet unborn—were also saved. And their children’s children—were saved.

Generations were saved by one decision—by one person.

But changing the world can happen anywhere and anyone can do it.

So, what starts here can indeed change the world, but the question is…what will the world look like after you change it?

Well, I am confident that it will look much, much better, but if you will humor this old sailor for just a moment, I have a few suggestions that may help you on your way to a better a world.

And while these lessons were learned during my time in the military, I can assure you that it matters not whether you ever served a day in uniform.

It matters not your gender, your ethnic or religious background, your orientation, or your social status.

Our struggles in this world are similar and the lessons to overcome those struggles and to move forward—changing ourselves and the world around us—will apply equally to all.

I have been a Navy SEAL for 36 years. But it all began when I left UT for Basic SEAL training in Coronado, California.

Basic SEAL training is six months of long torturous runs in the soft sand, midnight swims in the cold water off San Diego, obstacles courses, unending calisthenics, days without sleep and always being cold, wet and miserable.

It is six months of being constantly harassed by professionally trained warriors who seek to find the weak of mind and body and eliminate them from ever becoming a Navy SEAL.

But, the training also seeks to find those students who can lead in an environment of constant stress, chaos, failure and hardships.

To me basic SEAL training was a life time of challenges crammed into six months.


So, here are the ten lesson’s I learned from basic SEAL training that hopefully will be of value to you as you move forward in life.

Every morning in basic SEAL training, my instructors, who at the time were all Viet Nam veterans, would show up in my barracks room and the first thing they would inspect was your bed.

If you did it right, the corners would be square, the covers pulled tight, the pillow centered just under the headboard and the extra blanket folded neatly at the foot of the rack—rack—that’s Navy talk for bed.

It was a simple task—mundane at best. But every morning we were required to make our bed to perfection. It seemed a little ridiculous at the time, particularly in light of the fact that were aspiring to be real warriors, tough battle hardened SEALs—but the wisdom of this simple act has been proven to me many times over.

If you make your bed every morning you will have accomplished the first task of the day. It will give you a small sense of pride and it will encourage you to do another task and another and another.

By the end of the day, that one task completed will have turned into many tasks completed. Making your bed will also reinforce the fact that little things in life matter.

If you can’t do the little things right, you will never do the big things right.

And, if by chance you have a miserable day, you will come home to a bed that is made—that you made—and a made bed gives you encouragement that tomorrow will be better.

If you want to change the world, start off by making your bed.

During SEAL training the students are broken down into boat crews. Each crew is seven students—three on each side of a small rubber boat and one coxswain to help guide the dingy.

Every day your boat crew forms up on the beach and is instructed to get through the surfzone and paddle several miles down the coast.

In the winter, the surf off San Diego can get to be 8 to 10 feet high and it is exceedingly difficult to paddle through the plunging surf unless everyone digs in.

Every paddle must be synchronized to the stroke count of the coxswain. Everyone must exert equal effort or the boat will turn against the wave and be unceremoniously tossed back on the beach.

For the boat to make it to its destination, everyone must paddle.

You can’t change the world alone—you will need some help— and to truly get from your starting point to your destination takes friends, colleagues, the good will of strangers and a strong coxswain to guide them.

If you want to change the world, find someone to help you paddle.

Over a few weeks of difficult training my SEAL class which started with 150 men was down to just 35. There were now six boat crews of seven men each.

I was in the boat with the tall guys, but the best boat crew we had was made up of the the little guys—the munchkin crew we called them—no one was over about 5-foot five.

The munchkin boat crew had one American Indian, one African American, one Polish America, one Greek American, one Italian American, and two tough kids from the mid-west.

They out paddled, out-ran, and out swam all the other boat crews.

The big men in the other boat crews would always make good natured fun of the tiny little flippers the munchkins put on their tiny little feet prior to every swim.

But somehow these little guys, from every corner of the Nation and the world, always had the last laugh— swimming faster than everyone and reaching the shore long before the rest of us.

SEAL training was a great equalizer. Nothing mattered but your will to succeed. Not your color, not your ethnic background, not your education and not your social status.

If you want to change the world, measure a person by the size of their heart, not the size of their flippers.

Several times a week, the instructors would line up the class and do a uniform inspection. It was exceptionally thorough.

Your hat had to be perfectly starched, your uniform immaculately pressed and your belt buckle shiny and void of any smudges.

But it seemed that no matter how much effort you put into starching your hat, or pressing your uniform or polishing your belt buckle—- it just wasn’t good enough.

The instructors would fine “something” wrong.

For failing the uniform inspection, the student had to run, fully clothed into the surfzone and then, wet from head to toe, roll around on the beach until every part of your body was covered with sand.

The effect was known as a “sugar cookie.” You stayed in that uniform the rest of the day—cold, wet and sandy.

There were many a student who just couldn’t accept the fact that all their effort was in vain. That no matter how hard they tried to get the uniform right—it was unappreciated.

Those students didn’t make it through training.

Those students didn’t understand the purpose of the drill. You were never going to succeed. You were never going to have a perfect uniform.

Sometimes no matter how well you prepare or how well you perform you still end up as a sugar cookie.

It’s just the way life is sometimes.

If you want to change the world get over being a sugar cookie and keep moving forward.

Every day during training you were challenged with multiple physical events—long runs, long swims, obstacle courses, hours of calisthenics—something designed to test your mettle.

Every event had standards—times you had to meet. If you failed to meet those standards your name was posted on a list and at the end of the day those on the list were invited to—a “circus.”

A circus was two hours of additional calisthenics—designed to wear you down, to break your spirit, to force you to quit.

No one wanted a circus.

A circus meant that for that day you didn’t measure up. A circus meant more fatigue—and more fatigue meant that the following day would be more difficult—and more circuses were likely.

But at some time during SEAL training, everyone—everyone—made the circus list.

But an interesting thing happened to those who were constantly on the list. Overtime those students-—who did two hours of extra calisthenics—got stronger and stronger.

The pain of the circuses built inner strength-built physical resiliency.

Life is filled with circuses.

You will fail. You will likely fail often. It will be painful. It will be discouraging. At times it will test you to your very core.

But if you want to change the world, don’t be afraid of the circuses.

At least twice a week, the trainees were required to run the obstacle course. The obstacle course contained 25 obstacles including a 10-foot high wall, a 30-foot cargo net, and a barbed wire crawl to name a few.

But the most challenging obstacle was the slide for life. It had a three level 30 foot tower at one end and a one level tower at the other. In between was a 200-foot long rope.

You had to climb the three tiered tower and once at the top, you grabbed the rope, swung underneath the rope and pulled yourself hand over hand until you got to the other end.

The record for the obstacle course had stood for years when my class began training in 1977.

The record seemed unbeatable, until one day, a student decided to go down the slide for life—head first.

Instead of swinging his body underneath the rope and inching his way down, he bravely mounted the TOP of the rope and thrust himself forward.

It was a dangerous move—seemingly foolish, and fraught with risk. Failure could mean injury and being dropped from the training.

Without hesitation—the student slid down the rope—perilously fast, instead of several minutes, it only took him half that time and by the end of the course he had broken the record.

If you want to change the world sometimes you have to slide down the obstacle head first.

During the land warfare phase of training, the students are flown out to San Clemente Island which lies off the coast of San Diego.

The waters off San Clemente are a breeding ground for the great white sharks. To pass SEAL training there are a series of long swims that must be completed. One—is the night swim.

Before the swim the instructors joyfully brief the trainees on all the species of sharks that inhabit the waters off San Clemente.

They assure you, however, that no student has ever been eaten by a shark—at least not recently.

But, you are also taught that if a shark begins to circle your position—stand your ground. Do not swim away. Do not act afraid.

And if the shark, hungry for a midnight snack, darts towards you—then summons up all your strength and punch him in the snout and he will turn and swim away.

There are a lot of sharks in the world. If you hope to complete the swim you will have to deal with them.

So, If you want to change the world, don’t back down from the sharks.

As Navy SEALs one of our jobs is to conduct underwater attacks against enemy shipping. We practiced this technique extensively during basic training.

The ship attack mission is where a pair of SEAL divers is dropped off outside an enemy harbor and then swims well over two miles—underwater—using nothing but a depth gauge and a compass to get to their target.

During the entire swim, even well below the surface there is some light that comes through. It is comforting to know that there is open water above you.

But as you approach the ship, which is tied to a pier, the light begins to fade. The steel structure of the ship blocks the moonlight—it blocks the surrounding street lamps—it blocks all ambient light.

To be successful in your mission, you have to swim under the ship and find the keel—the centerline and the deepest part of the ship.

This is your objective. But the keel is also the darkest part of the ship—where you cannot see your hand in front of your face, where the noise from the ship’s machinery is deafening and where it is easy to get disoriented and fail.

Every SEAL knows that under the keel, at the darkest moment of the mission—is the time when you must be calm, composed—when all your tactical skills, your physical power and all your inner strength must be brought to bear.

If you want to change the world, you must be your very best in the darkest moment.

The ninth week of training is referred to as “Hell Week.” It is six days of no sleep, constant physical and mental harassment and—one special day at the Mud Flats—the Mud Flats are area between San Diego and Tijuana where the water runs off and creates the Tijuana slue’s—a swampy patch of terrain where the mud will engulf you.

It is on Wednesday of Hell Week that you paddle down to the mud flats and spend the next 15 hours trying to survive the freezing cold mud, the howling wind and the incessant pressure to quit from the instructors.

As the sun began to set that Wednesday evening, my training class, having committed some “egregious infraction of the rules” was ordered into the mud.

The mud consumed each man till there was nothing visible but our heads. The instructors told us we could leave the mud if only five men would quit—just five men and we could get out of the oppressive cold.

Looking around the mud flat it was apparent that some students were about to give up. It was still over eight hours till the sun came up—eight more hours of bone chilling cold.

The chattering teeth and shivering moans of the trainees were so loud it was hard to hear anything and then, one voice began to echo through the night—one voice raised in song.

The song was terribly out of tune, but sung with great enthusiasm.

One voice became two and two became three and before long everyone in the class was singing.

We knew that if one man could rise above the misery then others could as well.

The instructors threatened us with more time in the mud if we kept up the singing—but the singing persisted.

And somehow—the mud seemed a little warmer, the wind a little tamer and the dawn not so far away.

If I have learned anything in my time traveling the world, it is the power of hope. The power of one person—Washington, Lincoln, King, Mandela and even a young girl from Pakistan—Malala—one person can change the world by giving people hope.

So, if you want to change the world, start singing when you’re up to your neck in mud.

Finally, in SEAL training there is a bell. A brass bell that hangs in the center of the compound for all the students to see.

All you have to do to quit—is ring the bell. Ring the bell and you no longer have to wake up at 5 o’clock. Ring the bell and you no longer have to do the freezing cold swims.

Ring the bell and you no longer have to do the runs, the obstacle course, the PT—and you no longer have to endure the hardships of training.

Just ring the bell.

If you want to change the world don’t ever, ever ring the bell.

To the graduating class of 2014, you are moments away from graduating. Moments away from beginning your journey through life. Moments away starting to change the world—for the better.

It will not be easy.

But, YOU are the class of 2014—the class that can affect the lives of 800 million people in the next century.

Start each day with a task completed.

Find someone to help you through life.

Respect everyone.

Know that life is not fair and that you will fail often, but if take you take some risks, step up when the times are toughest, face down the bullies, lift up the downtrodden and never, ever give up—if you do these things, then next generation and the generations that follow will live in a world far better than the one we have today and—what started here will indeed have changed the world—for the better.

Thank you very much. Hook ‘em horns.